Tôi là Tăng Gia Hoài, kỹ sư phần mềm làm việc tại TP. Hồ Chí Minh.
Trọng tâm công việc của tôi xoay quanh kỹ thuật phát triển dịch vụ phía máy chủ (backend engineering), thiết kế kiến trúc hệ thống phân tán và tối ưu hóa hiệu năng cơ sở dữ liệu quan hệ. Tôi dành phần lớn thời gian để giải quyết các bài toán về độ trễ (latency), thông lượng (throughput) và đảm bảo tính nhất quán của dữ liệu dưới tải cao.
Nền tảng này đóng vai trò như một không gian làm việc kỹ thuật mở (The Lab) — nơi lưu trữ tài liệu phân tích mã nguồn, báo cáo benchmark định lượng và những bài học đúc kết được từ quá trình vận hành hệ thống thực tế.
Mọi framework, thư viện hay tầng ORM suy cho cùng đều là lớp bọc phía trên hệ điều hành, bộ nhớ vật lý và giao thức mạng. Thay vì phụ thuộc vào cấu hình mặc định, tôi chú trọng hiểu rõ cơ chế tương tác bên dưới: cách nhân Linux xử lý context switch, cách I/O đĩa ghi log tuần tự và cách CPU tận dụng bộ đệm L1/L2.
Tránh phỏng đoán và tối ưu hóa sớm khi chưa có chỉ số định lượng. Mọi can thiệp vào mã nguồn hoặc cấu hình đều được dẫn dắt bởi telemetry rõ ràng: profiling CPU/Heap bằng pprof, phân tích execution plan bằng EXPLAIN (ANALYZE, BUFFERS) và đo đạc độ trễ phân vị p95/p99 dưới các kịch bản kiểm thử tải nghiêm ngặt.
Kiến trúc hiệu quả là kiến trúc giải quyết triệt để yêu cầu bài toán với mức độ phức tạp tối thiểu. Hệ thống luôn được xây dựng với giả định rằng sự cố chắc chắn sẽ xảy ra: mọi kết nối đều có timeout, mọi thao tác phân tán đều có tính idempotent và cơ chế phục hồi lỗi được kiểm thử định kỳ.
Kiểm soát tranh chấp khóa mức dòng (row-level lock contention) trong giao dịch đồng thời cao. Phân tích chỉ mục B-Tree, partial index và tối ưu hóa kích thước Connection Pool qua pgBouncer nhằm ngăn chặn tình trạng bão hòa tài nguyên CPU máy chủ cơ sở dữ liệu.
Quản lý vòng đời Goroutine với worker pools và kiểm soát escape analysis để giảm thiểu áp lực cấp phát bộ nhớ heap. Sử dụng sync.Pool và cấu trúc dữ liệu đệm vòng (ring buffer) nhằm giữ độ trễ Garbage Collection ở mức dưới 1ms cho các đường ống streaming dữ liệu.
Thiết lập chặt chẽ Context Timeout, Circuit Breaker và cơ chế Exponential Backoff có kèm jitter cho toàn bộ các điểm giao tiếp hướng ngoại (outbound calls). Bảo đảm hệ thống cô lập được lỗi cục bộ và duy trì hoạt động ngay cả khi hạ tầng mạng xung quanh bị suy giảm chất lượng.
Golang (Clean Architecture, High-throughput API), TypeScript, Node.js runtime, C/Rust (nghiên cứu mở rộng module nhị phân).
PostgreSQL (Query Optimization, Partitioning, pgBouncer), Redis (Distributed Caching, Atomic Lua Scripts, Pub/Sub).
Go pprof (Heap, CPU, Block Contention), EXPLAIN (ANALYZE, BUFFERS), k6 load testing, hey benchmark, btop.
Linux / POSIX, Docker & Docker Compose, Nginx Gateway, Next.js (App Router, SSR Streaming), Git CI/CD.
Tôi luôn hoan nghênh các cuộc thảo luận kỹ thuật về kiến trúc hệ thống, backend engineering, giải pháp tối ưu hóa cơ sở dữ liệu hoặc chia sẻ phản biện mang tính xây dựng.